“Ở Việt Nam các tổng biên tập chưa quan tâm đến báo chí dữ liệu!”

Trong bài phỏng vấn này, Nguyễn Cường phỏng vấn Tổng biên tập Vietnam Plus Lê Quốc Minh tất tần tật về báo chí dữ liệu ở Việt Nam, mời bạn đọc cùng theo dõi.

Báo chí dữ liệu ở Việt Nam còn đang trong trình độ thấp

Báo chí dữ liệu ở Việt Nam còn đang trong trình độ thấp

  • Hình dung của ông về báo chí dữ liệu như thế nào?
  • Trước hết phải nói đến xu hướng của người dùng hiện nay, một yếu tố của báo chí là không thiên vị, rất công bằng và cân bằng. Khi mình đăng một bài báo lên phải cho phép đa chiều, nhiều người nói về cái đấy. Ví dụ như mình phê bình không khí Hà Nội bị ô nhiễm, mà mình chỉ đăng theo phát biểu của ông A phát biểu tại hội thảo B nào đó, mà mình không tham khảo ý kiến của cơ quan chức năng về môi trường ở Hà Nội thì sẽ bị thiên lệch. Tuy báo chí được yêu cầu công bằng, cân bằng và không thiên vị như vậy, nhưng khi viết nó vẫn đi qua một lăng kính, bộ lọc của nhà báo và trong nhiều trường hợp bản thân nhà báo muốn công bằng và cân bằng nhưng do trình độ nhận thức về chuyên ngành hay do những thiên kiến mang tính cố hữu nào đó khiến họ nói về một vấn đề nào đó không được thành bức tranh toàn cảnh. Hoặc thậm chí nhiều lúc chúng ta nghĩ rằng đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh rồi, nhưng chưa phải vì nó thiếu chỗ nọ, thừa chỗ kia. Trong cái sự thay đổi của người tiêu dùng như vậy thì người ta nghĩ rằng “Thôi ông có dữ liệu thô gì thì đưa tôi xem và tự tôi sẽ đánh giá.” Ví dụ tôi không cần ông nói rằng Hà Nội ô nhiễm nữa, mà tôi cần ông đưa tôi xem các bảng chỉ số, không chỉ là ô nhiễm không khí mà còn ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm đủ thứ trong vòng năm năm trở lại đây ( có thể tính theo năm, theo quý, theo tháng,…) Để chúng tôi nhìn vào biểu đồ chúng tôi nhận thấy à ở mức này nó nghiêm trọng, mức kia nó giảm bớt và tự chúng tôi đưa đánh giá của cá nhân chúng tôi. Nếu như tôi là một người tìm hiểu chung chung thì tôi cũng thấy rất là dễ hiểu. Nếu tôi là một chuyên gia trong lĩnh vực môi trường thì tôi cũng thấy những số liệu đó và đánh giá qua góc nhìn chuyên gia. Có một cái xu hướng người ta thấy rằng là những số liệu thô như vậy là đủ mà không cần thông qua bộ lọc là lăng kính của nhà báo nữa. Đấy là nguyên nhân giúp báo chí dữ liệu phát triển.
  • Nói một cách ngắn gọn khái quát nhất, theo ông báo chí dữ liệu là gì?
  • Báo chí dữ liệu là cách chúng ta hình ảnh hóa thông tin một cách dễ hiểu nhất cho độc giả, và chúng ta không cần giải thích cầu kì mà thuần túy đưa dữ liệu. Có những dữ liệu rất đơn giản, có những dữ liệu phức tạp. Chúng ta phải đơn giản hóa dữ liệu đó đi nhưng không được làm sai lệch. Ví dụ như những số liệu về môi trường ở Hà Nội trong năm năm qua, hay mười năm qua, nghe thì rất đơn giản, nhưng nếu chúng ta bóc tách chúng ra thì có thể lên tới chồng hồ sơ cao hàng mét. Khi mình gặp chồng hồ sơ cao hàng mét như vậy việc lọc ra các thông tin, những dữ liệu gì để cung cấp cho độc giả là việc không hề đơn giản một chút nào. Thực ra báo chí dữ liệu phát triển từ rất lâu rồi, báo chí dữ liệu xuất hiện trên báo in thầm chí từ cuối thế kỉ 19, đã có những thông tin được biến thành dạng dữ liệu để đưa cho độc giả. Ngày xưa thì nó rất đơn giản, nhưng khi mà chúng ta có internet và 2,3,4 năm gần đây vấn đề quan tâm dữ liệu hoàn toàn khác. Người ta sử dụng phân tích dữ liệu nhân tạo. Khi có những chồng hồ sơ như vậy, trước đây người ta khi làm những dự án quy mô lớn cần rất nhiều người ngồi tra cứu. Nhưng hiện nay người ta đẩy vào hệ thống phân tích dữ liệu nhân tạo giảm 60,70%, con người sẽ phân tích sau khi có những kết quả mang tính sơ bộ. Cách thức làm dữ liệu là như vậy, dù thế nào chăng nữa, thì những cái việc thể hiện cho người đọc nó phải dễ dàng, dễ hiểu và hiểu đúng nhất.
  • Chúng ta vừa có những hiểu biết sơ bộ về báo chí dữ liệu. Theo ông báo chí dữ liệu bao gồm những gì?
  • Hiện nay để làm báo chí dữ liệu thì sau khi thu thập dữ liệu, có một người quan trong là Data Scientist- chuyên gia phân tích dữ liệu với tư duy bao gồm toán học, kinh tế học, công nghệ. Để nhìn những dữ liệu và phân tích rõ nét, dễ hiểu nhất. Sau đó họ cần những nhà báo ngồi cùng để với những hướng dữ liệu đó chúng ta vẽ ra bức tranh theo kiểu gì, chúng ta cần những nhân viên thiết kế đồ họa để hình ảnh hóa nó. Chúng ta cần những nhân viên lập trình đê biến chúng có thể tương tác được. Để tham gia vào quá trình dữ liệu như hiện nay thì nó cần những người như vậy. Chưa kể những người làm công việc Data Mining đi mò dữ liệu khắp nơi. Nhà báo lúc này chỉ là một mắt xích, cần những người Data Scientist, Data Mining, những người lập trình, làm đồ họa, tạo thành dự án Data Journalism rất quy mô, tất nhiên không phải tất cả các dự án đều như vậy, có những dự án đơn giản hơn, bản thân phóng viên có thể làm Data Journalism được. Ví dụ ở Vietnamplus chúng tôi 100% phóng viên có thể làm Data Journalism được. Ngày xưa chúng ta có hồ sơ đầy những con số giả dụ tình hình xuất nhập khẩu, năm bảy mười loại mặt hàng của Việt Nam trong quý I/2017, so sánh với cùng kì của những năm trước, hoặc giữa các sản phẩm so sánh với nhau, những con số ấy luôn có trong những báo cáo. Ngày xưa chúng ta làm một việc rất đơn giản là chúng ta kẻ lên một cái bảng, hay chúng ta xuất nó sang một cái hình excel, hay thiết kế những cái hình tĩnh đơn giản,v.v. Nhưng hiện nay chúng tôi làm phức tạp hơn, chúng tôi có những công cụ. Một là chúng tôi có những người thiết kế đồ họa để vẽ hình chuyên nghiệp hơn. Hai là có những công cụ để bản thân phóng viên có thể nhập những dữ liệu đấy vào không khác gì các bản excel cả, xuất ra thành code, sau khi lấy code đặt vào cái bài trên mạng của mình dưới dạng mã HTML, nó sẽ hiển thị theo kiểu tương tác và mình chạm vào cái nó hiện con số lên ngay, nó chuyển động, người đọc thấy trực quan sinh động hơn.Tất cả phóng viên của Vietnamplus đều làm được điều này, bằng cách họ phải hiểu về cấu trúc dữ liệu và biết sử dụng phần mềm để biến thành những cái hình trực quan. Nó có thể là những cái hình đơn giản dưới dạng cột, bánh, hay phức tạp hơn là bản đồ, phân chia các vùng trên thế giới, từng tỉnh trong quốc gia. Nó có thể biến thành một cái infographich phức tạp hơn bao gồm: phần trên text ra làm sao, sapo như thế nào, hình ảnh chỗ này thì tĩnh chỗ kia thì động ra làm sao,…
  • Trong nghiên cứu của mình tôi nhận thấy có ý kiến cho rằng: Báo chí dữ liệu rất đơn giản, nó chỉ là sự kết hợp giữa báo chí và dữ liệu. Thì ông đánh giá như thế nào ?
  • Ngày xưa mọi người có thể nghĩ là đơn giản, vì theo tôi nghĩ là tập hợp một số các dữ liệu nhất định và những dữ liệu này nó chỉ có trong thời gian ngắn với những dữ liệu hạn hẹp, để chúng ta xây dựng lên một cái chart biểu đồ có thể là tĩnh có thể là động thì chúng ta nghĩ là đơn giản. Nhưng bây giờ có rất nhiều dự án dữ liệu mà nó biến thành một sản phẩm riêng độc lập media product chứ nó không chỉ trên một bài báo. Trong slide mà tôi gửi có một dự án của Reuter trình bày hệ thống trong Bộ Chính Trị của Trung Quốc. (Quan hệ của người này với người kia, người này quan hệ về mặt chính trị xã hội anh em nọ kia, cả một hệ thống, biến thành một project đứng độc lập riêng rẽ.) Như vậy nó là một hệ thống Data khổng lồ, và khi có hệ thống Data khổng lồ rồi, thì cái giỏi của người làm báo ở đây là làm sao kết nối lại để không bị rối tinh rối mù lên, thì chính là cần người phân tích Data là bì vậy, cái ông Data Scientist với một tư duy rất là khoa học ngồi với một ông báo chí, biến những thứ mang tính chất chuyên ngành phức tạp ra thành thứ đơn giản dễ hiểu nhất, ngồi với ông lập trình để biến thành giao diện thể hiện, cái này thì vô cùng phức tạp. Có rất nhiều dự án lớn hiện nay được xây dựng dưới dạng dự án độc lập. Ví dụ họ xây dựng một cái dự án về quy trình của một công ty dược và gọi là có rất nhiều những sai phạm. Nhưng giờ thay vì viết những cái bài xong cho ảnh video thông thường, họ biến nó thành dưới dạng dữ liệu kết nối với nhau, thì nó sẽ khiến cho người ta rất dễ hiểu. Hay những dự án đơn giản hơn như là chuyện về tàu điện cao tốc, lúc chạy bị trật khỏi đường ray, nếu chúng ta đưa tin thông thường chúng ta đưa cái tàu này vào giờ nọ phút kia tại cái điểm như vậy, bị trật bánh khiến bao nhiêu người chết, bao nhiêu người bị thương. Nhưng với báo chí dữ liệu, hình ảnh hóa lên thành cái dự án dữ liệu, người ta xác định tại thời điểm này tàu đạt vận tốc bao nhiêu, kia đạt vận tốc bao nhiêu, tại thời điểm đổ đạt vận tốc bao nhiêu, thì chúng ta theo dõi rất dễ dàng. Hay đơn cử là chúng ta theo đuổi một cái đánh bom tại một sự kiện đông đúc. Nếu chúng ta kể bằng lời thì chúng ta sẽ nói rằng hắn chạy từ phố nọ sang phố kia, ẩn náu vào cái xe ô tô nọ, nấp vào cái xe tải như thế kia, và cuối cùng bị bắt ở phố nọ. Nhưng khi ta biến thành dữ liệu thì có khi nhấp con chuột vào thì có thể thấy đường chạy của kẻ khủng bố rõ ràng,…
  • Vâng thưa ông, ở Vietnamplus có những dự liệu báo chí như thế nào?
  • Thứ nhất chúng tôi có thông tin đồ họa dưới dạng tĩnh, một là do chúng tôi tự sản xuất, hai là do chúng tôi hợp tác với hang AFP Pháp, đây là một trong những thể loại cơ bản nhất, đơn giản nhất của báo chí dữ liệu. Chẳng hạn nói đến quá trình phát triển của một công ty Apple hay Samsung nếu chúng ta viết bài báo thì có thể viết hàng trăm bài cũng không thể hết. Nhưng nếu chúng ta vẽ hình đồ họa, cho thấy sự tăng trưởng và giảm sút qua từng thời kì gắn liền với sự ra đời của các dòng sản phẩm chẳng hạn, với những dấu mốc nhất định, hay bổ sung hình ảnh biểu đồ thì người đọc có thể nhìn biết ngay. Người ta nói về một quốc gia tóm gọn qua một cái profile không đơn giản, nhưng nếu chúng ta có những index sẽ rất rõ rang, ví dụ như tuổi thọ, mức độ tăng trưởng GDP, mức độ minh bạch, tham nhũng, ví dụ như những vấn đề chi tiêu công, những tiêu chí đó biến thành hình ảnh để minh họa. Đấy là cách mà chúng tôi làm, cách này chúng tôi phối hợp với AFP. Trước kia chúng tôi hợp tác với Graphich News là một hãng tin của Anh, từ 2004 khi mà Vietnamplus còn chưa ra đời. Sau đó chúng tôi hợp tác với AFP từ 2010 để làm đồ họa tĩnh, cũng trong năm ấy chúng tôi làm đồ họa động 6/2010. Sau đó chúng tôi tự sản xuất các tin đồ họa trong nước. Sau đó chúng tôi tiến lên một bước là sử dụng đồ họa tương tác những cái tool. Những cái tool như này tôi dùng ở tính minh họa cho các bài viết, và triển khai ồ ạt. Có lẽ Vietnamplus là toà soạn đầu tiên ở Việt Nam mà tất cả phóng viên đều biết sử dụng Data Journalism. Hiện nay chúng tôi đang triển khai dự án báo chí dữ liệu độc lập. Nhờ đó chúng tôi trúng được một khóa đào tạo của Pháp, qua đó các biên tập viên sẽ trở thành những nhân viên lập trình, biết xây dựng dự án đồ họa. Xu hướng của báo chí hiện này là nếu quá phụ thuộc vào những người lập trình, không phải tờ báo nào cũng có những nhân viên như vậy. Nên có những chương trình hỗ trợ để đạo tạo những biên tập viên có kiến thức lập trình. Đương nhiên về lâu dài theo xu hướng thế giới, trong tòa soạn phải có nhân viên lập trình. Không phải là bộ phận tách biệt, mà là những nhân viên ngồi cùng để sản xuất nội dung. Trước đây nhân viên lập trình chỉ lo kĩ thuật, CMS thôi, sau khi xong CMS biên tập viên cứ thế làm nếu gặp trục trặc gì thì bên kĩ thuật đến hỗ trợ, nhưng bây giờ làm bất cứ việc gì đều phải có nhân viên kĩ thuật ngồi cùng. Ví dụ hôm nay tôi viết bài về anh xạ thủ Hoàng Xuân Vinh chúng tôi không muốn viết bài về anh này vất vả ra sao, tập luyện thế này thế nọ, mà tôi muốn thể hiện một phần bằng hình ảnh. Trong đó có dữ liệu, thành tích đi từ thấp lên cao, đến khi đạt huy chương vàng thế giới thì nó như thế nào. Thì phải có ông kĩ thuật ngồi cùng, không chỉ có vẽ ra một hình đồ họa đơn giản nó bổ trợ thêm nhiều thứ, tiếng động, chạm vào đẩy ra thông tin gì v.v.. Để được như vậy không phải tòa soạn nào cũng có chi phí để có ông kĩ thuật ngồi cùng, nên giờ để biên tập viên đi học lập trình, và có những cách thức để biên tập viên nhanh chóng học được.
  • Tóm gọn lại đặc điểm của báo chí dữ liệu là gì?
  • Đặc điểm quan trọng nhất là dữ liệu, mình nhìn vào đó mình phải thấy rõ. Thứ hai là phải được hình ảnh hóa không phải dưới dạng văn bản, liệt kê. Hình ảnh hóa dưới dạng hình ảnh tĩnh, hình ảnh động.
  • Thưa ông yếu tố công nghệ trong báo chí dữ liệu có vai trò như thế nào?
  • Càng ngày càng trở nên quan trọng. Ngày xưa chỉ có nhà báo và designer là có thể sản xuất báo chí dữ liệu. Ngày nay thì không đơn giản thế có hai cách: một là sử dụng cái tool có sẵn để chế, người phóng viên có kiến thức có thể làm được. Nhưng để làm cao cấp, những dự án phức tạp cần đồi ngũ công nghệ ngồi cùng.để biến những ý tưởng về mặt báo chí, những số liệu khô khan để trở thành sản phẩm vừa đẹp vừa dễ hiêủ.
  • Thưa ông trong tòa soạn của chúng ta có những công cụ nào?
  • Chúng tôi có một số đối tác, trong một số dự án chúng tôi sử dụng công cụ social listening, giúp ra được bảng biểu rất cụ thể. Thứ hai mình có dữ liệu không có trên mạng, chúng tôi phải đẩy tay, chúng tôi dùng các loại tool đơn giản phân tích dữ liệu. Còn với dự án rất nhiều dữ liệu thì chúng tôi sử dụng một dạng trí tuệ nhân tạo, nhờ qua một công ty đối tác Cái này phức tạp hơn, chúng tôi đang nhờ qua một đối tác, cũng rất là thú vị, và nó có thể phân tích những thứ mà chúng ta không thể tưởng tượng được, lên đến hàng tỷ thông tin, mà nếu phân tích bằng tay thì không bao giờ phân tích nổi. Thậm chí những keyword này ám chỉ cái gì, đi sang đâu nó cũng đều phân tích ra cả, người nọ nó gắn với người kia như thế nào. Những dự án lớn, quy mô thì thường sử dụng trí tuệ nhân tạo.
  • Đầu vào của báo chí dữ liệu Vietnamplus là gì, nó có khác các bài báo khác hay không?
  • Ở Việt Nam có một cái khó là dữ liệu không có sẵn, ở nước ngoài thì đơn giản hơn. Bất kì bộ ngành công ty nào, vấn đề dữ liệu là vô cùng quan trọng. Bất cứ thành phố, quận, phường đều phải công khai mọi thứ. Đấy là ở nước ngoài, các nhà báo lấy lại các báo cáo đó, lọc lại một vài thông tin. Giờ có báo chí dữ liệu họ không lọc một phần nữa mà họ có thể sử dụng toàn bộ dữ liệu của câu chuyện lớn. Giả dụ họ nói về tình hình thành phố này, phường này ô nhiễm nghiêm trọng trong thời gian qua. Giả dụ họ chỉ nói ô nhiễm kênh rạch thôi nhưng họ hoàn toàn có thể lấy một cái báo cáo đầy đủ của cái phường đấy về tất cả các vấn đề ô nhiễm. Họ biến thành một phần Data Journalism trong bài báo của họ. Ở Việt Nam chúng ta thì khó hơn, vì chúng ta không có những báo cáo sẵn có như vậy, thậm chí ở cấp Bộ, Ngành báo cáo cũng rất chậm. Ví dụ khi chúng ta muốn nói về một thứ xảy ra thường xuyên là xuất nhập khẩu, không có một báo cáo có sẵn trong thời gian dài. Hay nói về tình hình sản xuất xe, chính ra tháng nào phải có tổng hợp tháng ấy, hết quý phải có tổng kết quý, hết năm phải có tổng kết năm, thì mới so sánh ngược trở lại so với các năm trước. Thế nhưng những báo cáo sẵn có ấy là không có gây khó khăn cho người dân và nhà báo. Báo chí dữ liệu không chỉ dành cho nhà báo, nếu người dân có kĩ năng thì cũng có thể tổng hợp được. Ở Việt Nam nhà báo khó có thể tiếp cận những báo cáo như vậy, hai là chúng ta chỉ tiếp cận báo cáo có tính chất đơn lẻ. Tại hội nghị này chúng ta được cung cấp báo cáo này, tại hội nghị khác ta được cung cấp báo cáo khác. Và những báo cáo ấy nhiều khi nó không có sự liên kết. Nên có nhiều trường hợp ta chỉ bóc tách được một vài nội dung trong một báo cáo nhất định, hay nhiều báo cáo cho bài viết của mình. Chúng tôi đang cố gắng xây dựng bài viết mang tính chất tổng hợp. Ví dụ tổng hợp của ngành nghề trong một năm hoặc tổng hợp vấn đề nào đó trong thời gian dài, thì chúng tôi khuyến khích phóng viên đi lấy hết tài liệu về. Chúng tôi có tuyến bài nhìn lại 10 năm. Phải lên đến hàng chồng báo cáo, nếu không có công cụ phần mềm hỗ trợ, chúng tôi sẽ chỉ chọn từng mục để phân tích, dù sao tập hợp báo cáo này rất có lợi. Hôm nay viết câu chuyện về 10 năm, năm sau, năm sau nữa làm dày Data ấy của mình. Vài năm nữa chúng ta viết lại bài 15 năm rất tiện. Cách thức tổng hợp dữ liệu của chúng tôi giờ đang đi theo hướng đó. Tương lai chúng tôi sẽ có tất cả dữ liệu nhắm vào các lĩnh vực trọng yếu, lĩnh vực độc già quan tâm.
  • Ngoài dữ liệu từ các cơ quan công như vậy, còn nguồn nào nữa không, thưa ông?
  • Những dữ liệu này đã được tổng hợp sẵn, nó có thể là một tài liệu được tổng hợp từ nhiều tài liệu, hoăc nhiều tài liệu đơn lẻ mà chúng ta sẽ tập hợp lại. Nhưng thông thường nó phải đến từ nguồn chính thức. À chúng ta vừa nói báo chí dữ liệu còn rât nhiều vấn đề chứ không riêng gì báo cáo. Chẳng hạn như bà Hilary Clinton, người ta tổng hợp được các loại thư từ của bà trong quá trình tranh cử. Người ta tổng hợp được bao nhiêu lần bà nhắc tới từ này, từ kia. Và từ đó là không phù hợp, giống như kiểu kêu gọi tranh cử không phù hợp, ví dụ thế. Nó cũng là một dạng dữ liệu.Người ta có thể tổng hợp các tài liệu của một công ty như chứng từ nộp thuế trong thời gian dài,và người ta tìm ra trong hóa đơn có phần khác thường, phân tích nó ra cũng là một dạng báo chí dữ liệu. Chúng ta thì chưa đủ năng lực tập hợp dữ liệu dạng như vậy. vì hệ thống của chúng ta không lưu giữ những tài liệu chi tiết như vậy.
  • Thưa ông, tòa soạn của chúng ta có chuyên viên phân tích dữ liệu không? Có chuyên viên trình bày dữ liệu không? Và có phóng viên khai thác dữ liệu không?
  • Chuyên viên phân tích dữ liệu thì không có, vì cái này quá mới mẻ, và trong báo chí Việt Nam chưa ai nghĩ ra cần chuyên gia Data Scientist trong hoạt động báo chí cả. Hiện nay chúng tôi cũng kêu gọi các bạn học ngành này về thử việc, thực tập tại Vietnamplus vì thông thường các tòa soạn chỉ đưa những nhân viên học ngoại ngữ hay báo chí vào thực tập thôi, chứ không có tòa soạn nào dùng nhân viên công nghệ hay nhân viên về dữ liệu. Bởi những người này học Bách Khoa hay Công Nghệ không liên quan gì đến báo chí cả. Bởi báo chí Việt Nam hiện nay chưa nghĩ đến việc sử dụng đối tượng này. Cho nên tôi không biết tới thời điểm này ở Việt Nam có tòa soạn nào dùng Data Scientist. Ở Vietnamplus thì muốn có, nhưng phải thử nghiệm vai trò của người này rồi mới xin tuyển dụng vị trí công việc. Thứ hai là nhân viên thể hiên Graphich designer là chúng tôi có lâu rồi từ năm 2004. Lúc có hai lúc có bốn người. Chúng tôi có những nhân viên lập trình, rất may là chúng tôi có IT partner, hai là chúng tôi có trung tâm kĩ thuật của Thông tấn xã Việt Nam phối hợp cùng. Nói riêng là chúng tôi có một sản phẩm, chưa hẳn là Data Journalism nhưng lọt vào chung khảo của Giải báo chí đối ngoại toàn quốc. Nếu tác phẩm này đoạt giải là sản phẩm đầu tiên ông báo chí kết hợp với ông công nghệ mà được giải. Bình thường thì chỉ có ông báo chí phối hợp với ông ảnh, ông quay phim. Tất nhiên tôi đã nói cần ông kĩ thuật ngồi chung và hiểu rõ mới hiệu quả. Hoặc phải có phòng công nghệ. VNExpress thì có, nhưng chỉ làm theo dự án, ví dụ như Đại hội Đảng làm danh sách gì đó v.v.. Họ sử dụng phòng công nghệ của tập đoàn làm điều đó.
  • Thế phóng viên khai thác dữ liệu có không ạ?
  • Chưa có, hiện nay phóng viên ngành nào chịu trách nhiệm khai thác dữ liệu ngành đó. Tuy nhiên họ không phải là Data Mining là những ông mò dữ liệu. Có nhiều phóng viên có thể làm được, ở nước ngoài họ có những phóng viên làm điều đó chuyên nghiệp.
  • Có phần mềm nào để tổng hợp dữ liệu hay chưa?
  • Không có, gọi là tổng hợp theo dạng trí tuệ nhân tạo là không có. Đó là cái khâu vô cùng phức tạp, không phải ai cũng làm được. Phần mềm trí tuệ nhân tạo cũng đã xuất hiện ở Việt Nam, nhưng nó chỉ phục vụ một đề bài cụ thể. Ví dụ anh phải có đề bài: Tôi muốn nói về sự cạnh tranh của Iphone, Samsung, Huawei, Oppo chẳng hạn như thế. Cạnh tranh về lĩnh vực gì? Trong khoảng thời gian nào? Tại địa bàn nào?… ra những đầu bài rất là rõ ràng và họ chạy trên hệ thống trí tuệ nhân tạo. Phân tích trên cái dạng gì? Chỉ những bài tiếng Việt thôi, hay cả những bài tiếng Anh? Cả trên báo chí chính thống hay trên mạng xã hội nữa? Phân tích dự liệu trên các cái Tool đặc biệt, không dễ.
  • Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về báo chí dự liệu trong thời đại ngày nay ở Việt Nam?
  • Ngày nay như tôi nói lúc đầu có một bộ phận người dùng họ thích xem dữ liệu thô và có thể có lí do là họ không tin vào cơ quan báo chí, và cũng có thể họ rất tự tin vào năng lực phân tích của họ nên họ muốn nhìn vào các dữ liệu thô hơn các bài viết. Và các bài viết chỉ tập trung được vào khía cạnh nhất định, mà họ muốn nhìn vào một cái khía cạnh sâu hơn, rộng hơn thì phát sinh nhu cầu trên. Thứ hai là do sự thay đổi của hành vi tiêu dung thông tin, khi mà người dùng không có nhiều thời gian và họ muốn xem những con số cụ thê rất là nhanh chóng, đẹp đẽ, trực quan. Thậm chí lưu lại để sử dụng làm dữ liệu cá nhân. Sự thay đổi về cách đọc tin, thiết bị, công nghệ phát triển. Một vấn đề nữa nếu chúng ta cứ viết bài như cũ mà không có sự thay đổi mới mẻ thì chúng ta sẽ mất độc giả, đặc biệt là người đọc trẻ. Data một cách kĩ càng hay Data đơn giản nhưng thể hiện nó hình ảnh hóa visualization là xu hướng quan trọng hiện nay. Visualization là trụ cột của báo chí hiện nay, cùng với video, hình ảnh hóa trở thành một phần rất là quan trọng. Muốn visualization thì phải có data. Chứ chúng ta không thể visualization thuần túy bằng mấy cái ảnh hay chữ được. Thực tế đó khiến cho báo chí dữ liệu càng quan trọng.
  • Tại sao các cơ quan báo chí quan tâm đến báo chí dữ liệu, khi mà chưa có hiểu biết rõ ràng về nó?
  • Nói là quan tâm thì chưa hẳn đâu. Chỉ có vài cơ quan báo in, biến những con số khô khan thành đồ thị, biểu đồ một cách đẹp đẽ. Truyền hình thì có thể hiện nhưng khó khăn vì thời lượng ngắn, người xem chỉ có thể xem những thứ khái quát nhất. Nhờ Internet báo chí dữ liệu mới phát triển, bởi khi đó chúng ta mới làm được những thứ để tương tác, và mọi người thấy rằng những thứ này nó dễ hiểu, đẹp đẽ, thu hút người dùng hơn nên có những cơ quan quan tâm đến việc này. Và nhiều trường hợp nếu ta đưa ra những văn bản là vô cùng khó khăn, nhưng khi thể hiện bằng báo chí dữ liệu lại rất dễ dàng. Ví dụ chúng ta muốn tổng hợp danh sách mấy trăm ông ủy viên trung ương nếu nêu danh sách bên cạnh, độ tuổi quê quán rất là khó. Giờ tôi chỉ cần chấm vào Hà Tĩnh hiện lên bảy ông, tám ông. Tôi chấm vào Thái Bình hiện lên ba ông. Chứ bây giờ danh sách như thế này phải lọc trong đấy. Nhưng tôi lại muốn biết có bao nhiêu ông từ năm mươi tuổi đổ xuống thì tôi bấm vào cái nút đấy là nó hiện lên. Đấy mới chỉ là sự thể hiện đơn giản nhất, vẫn là dạng đơn giản của báo chí dữ liệu. Giống như ta có một cái cây như dự án của Reuter vô cùng phức tạp. Ông Giang Trạch Dân với ông Hồ Cẩm Đào quan hệ ra làm sao? Ông Hồ Cẩm Đào xuyên xuống ông nọ, ông nọ ra làm sao? Rồi lại vòng vèo về ông Giang Trạch Dân, giả dụ như vậy. Thì với cách thể hiện của báo chí dữ liệu lại rất trực quan, dễ hiểu, trong khi chúng ta giải thích bằng ngôn từ lại rất lòng vòng khó hiểu, có khi viết hàng trăm trang sách. Báo chí Việt Nam thì khá là chậm trong vấn đề này. Ở nước ngoài có rất nhiều giải thưởng cho báo chí dữ liệu mà tôi dẫn link trong slide của tôi anh vào xem. Việt Nam thì chưa nhiều nơi quan tâm, và chưa thực sự hiểu về báo chí dữ liệu. Nhưng đơn vị đi đầu là những đơn vị nắm giữ thế mạnh công nghệ.
  • Thưa ông sự tha hóa của báo chí hiện nay, nó có phải là lí do để báo chí dữ liệu phát triển không?
  • Tôi không nghĩ vậy, tất nhiên là cái vấn đề niềm tin bạn đọc vào báo chí thay đổi không phải là câu chuyện của Việt Nam mà trên toàn thế giới. Người đọc ngày càng cho rằng mình có nhiều sự thông tinh hơn, nên có đủ năng lực xử lí dữ liệu như vậy. Thậm chí có những người không phải vì thông minh, mà tôi muốn nhìn vào những con số cụ thể để tôi đánh giá. Ví dụ như anh nói rằng cái này nhiễm độc. Thì anh cho tôi cái chỉ số, xem mức độ nhiễm độc là bao nhiêu, để tôi đem so sánh với chỉ số cái mức này là an toàn. Thế thôi, còn anh nói độc hay không độc tôi không cần biết. Cái sự thay đổi nhận thức của người dùng đối với các con số thay đổi rất nhiều. Ai cũng muốn tự mình biết những con số ấy. Ngay người Nhật trong một sản phẩm đồ ăn, một lon nước, một lon sữa chẳng hạn đều ghi hết tất cả dữ liệu ra, Mg bao nhiêu, Fe bao nhiêu nọ kia,…nhìn vào biết ngay uống vào có bao nhiêu calories trong người. Tôi là người ăn kiêng tôi cần 80 klcalo, người kia cần 200lkcalo, và tôi cầm bịch sữa tôi biết. Thì giống như thế, người dùng muốn biết thông tin dạng như vậy. Tôi muốn biết là 16G, cái này là 216G tôi biết là tôi cần cái nào. Thứ hai là người đọc không tin vào báo chí nữa. Báo chí là người gác cổng, có nhiệm vụ là lọc tin để cho tôi xem, do thiên kiến, do nhận thức của ông mà chọn ra những thứ mà tôi không muốn xem, tôi không tin ông nữa. Tại sao trong cuộc đời có hàng nghìn hàng vạn câu chuyện, mà ông chọn được có mười tin tất nhiên do tờ báo không tải được. Tôi thấy có hai tin kia hay thế mà ông không đưa, thì bây giờ ông đưa data đây. Bây giờ nói chuyện giải cứu lợn chứ gì, thì giờ ông đưa hêt data đây. Ngày xưa nuôi bao nhiêu con lợn, tại sao bỗng dưng bây giờ nuôi nhiều lợn thế, một con lợn nuôi như thế nào mà ông bảo là lỗ, nó ăn cái gì, các chi phí chuồng trại xyz,…để tôi xem. Tại sao tôi cũng nuôi lợn đây này, không có cám gì, tôi nuôi theo kiểu truyền thống thôi, thì tôi bị đắt như thế, mà ông kia nuôi rẻ vậy. Xu hướng mất niềm tin vào báo chí có khắp nơi trên thế giới không chỉ có Việt Nam. Tất nhiên, chúng ta chưa nói đến chuyện báo chí làm không chuyên nghiệp, làm kém cỏi hay vì lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm, hay bị tha hóa hay gì đó, chưa nói tới. Kể cả khi anh làm rất là chuyên nghiệp xu hướng người ta vẫn là không tin báo chí.
  • Vâng, thưa ông có phải báo chí truyền thông đang bị cạnh tranh thông tin, cho nên cần những công cụ mới hơn như báo chí dữ liệu?
  • Như mình nói đây không phải công cụ mới, đây là công cụ có cả trăm năm nay, nhưng công cụ này đang ngày càng tiến hóa từ công nghệ. Trước kia nó đơn giản, và trong suốt cả trăm năm qua nó cũng khá là đơn giản như vậy thôi. Nhưng gần đây, khi mà dữ liệu càng ngày càng khổng lồ. Ngày xưa nhà báo chỉ có khả năng tiếp cận một khối lượng thông tin nhất định. Nhưng ngày nay, nhờ internet và các chính sách ngày càng minh bạch của cơ quan công quyền thì Data ngày càng dày lên. Khi mà khối lượng khổng lồ dữ liệu đến với nhà báo, thì nó sinh ra cái phân tích dữ liệu. Ngày xưa anh chỉ nhận được một, hai, mười báo cáo, trăm báo cáo đi. Nhưng bây giờ nó đổ ập đến nhà báo như một cái gì đó khổng lồ. Thứ hai là các quá trình phát triển của doanh nghiệp thôi, ngân hàng, hay tình trạng trốn thuế. Nó không chỉ liên quan đến một, mà nó liên quan đến hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn công ty, liên quan đến hàng chục quốc gia. Thì khi các dữ liệu khổng lồ ấy đổ ập đến, phát sinh ra cái làm thế nào thể hiện được tất cả những thứ ấy, bằng cách thứ phải phức tạp hơn. Bây giờ chúng ta lại có công nghệ để chúng ta làm điều đó, dù trên một trang đơn giản. Ngày xưa nếu anh muốn làm thì phải kéo dài, kéo dài mãi ra, kể cả trên web, khi trên web mới phát sinh. Anh làm cái bảng này dài nhiều trang, nhưng giờ công nghệ cho phép chỉ trên một trang thôi. Công nghệ phát triển cho phép nhiều tiện ích dù người dùng đòi hỏi nhiều hơn, Data nhiều hơn. Báo chí dữ liệu không phải là cái mới, nhưng nó được tiến hóa lên rất đặc biệt. Khi nó tiến hóa lên nó gặp visualization.
  • Hiện nay ở Việt Nam cơ quan nào làm báo chí dữ liệu thưa ông?
  • Theo tôi được biết VNEXPRESS có làm nhưng không nhiều lắm. Xét về số lượng thì Vietnamplus làm cực kì nhiều ở mức độ không quá phức tạp. Chúng tôi tham vọng làm những thứ phức tạp hơn như project chứ không đơn giản là bài. Còn những tờ báo khác nó dừng lại ở phần hình tĩnh, được vẽ lại đẹp hơn, số lượng rất ít.
  • Dự đoán trong ngắn hạn và dài hạn của báo chí dữ liệu Việt Nam là gì ?
  • Nhiều tờ báo đã quan tâm đến vấn đề này và mời tôi dạy báo chí dữ liệu. Không chỉ giảng giải mà muốn nhân viên bên tôi ngồi cùng để hướng dẫn. Điều đó cho thấy là sự quan tâm là bắt đầu có, không thể phủ nhận. Sự thay đổi là tất yếu khi mà nhu cầu của độc giả đã thay đổi rồi. Nhiều người vẫn nghĩ đây là một cái mới mẻ, chưa thấy nó là nhu cầu thực sự để thể hiện nội dung. Bản chất của báo chí dữ liệu là khi có một đống dữ liệu như thế này làm sao để nó dễ hiểu nhất, đơn giản nhất. Chỉ khi nào người ta hiểu đúng bản chất của báo chí dữ liệu thì báo chí dữ liệu được, điều này cần thời gian vì đã số tờ báo phát triển từ báo in, hơn nữa họ cạnh tranh, nhao theo nhau quá nên làm việc có tính tức thời, không nghĩ sâu xa, lâu dài. Nên rất nhiều tờ báo họ không làm là vì như vậy. Họ muốn là bài viết nào cũng có nhiều view hơn là bài sâu sắc mà ngồi lâu, dữ liệu phức tạp mà không nhiều người xem. Tình trạng này có lẽ sẽ kéo dài, nhất là với các báo nhỏ. Các báo lớn nếu có quan tâm thì họ sẵn sàng dành nguồn lực, nhân lực, tài lực làm việc này. Thực tế cho thấy là nhiều tờ báo lớn đã quan tâm đến vấn đề này. Nhưng để đi vào thực tiễn thì không dám nói, vì đây là vấn đề thay đổi tư duy, người chỉ đạo việc này không chỉ bảo làm đi, mà phải kết hợp một bộ máy. Nếu cách đây 5 năm chỉ cần nhà báo và designer. Nhưng ngày nay cần một bộ máy như kể trên. Những người làm được việc đó thì không nhiều. Hơn hết là quan niệm về vai trò của những thành phần này chưa đủ để họ cấu thành bộ phận trong tòa soạn, cùng làm việc với các nhà báo. Những công việc của Data Mining có vẻ đơn giản hơn của nhà báo ở chừng mực nào đó. Một ông nhà báo sẽ bảo ông Data Mining là ông tìm hộ tôi con số về mặt sản xuất đinh vít dùng cho sản xuất xe Toyota Altist trong suốt bảy năm qua. Ai sản xuất, có sự cố gì không, sản xuất bằng nguyên liệu trong nước hay nhập từ nước ngoài, trộn bao nhiêu phần gang, những thứ ấy làm sao ông phóng viên có thể đi tim được. Ví dụ nó tìm ra sự cố ở bộ phận này, và phóng viên nghi cho cái vít này. Thì nó sẽ cho ông này đi tìm ai sản xuất, trước đây nhập của Nhật, sau nhập của Tàu, sau để ông Việt Nam tự sản xuất. Vì nôi địa hóa mà. Thì liệu đây có phải là vấn đề của nó không. Thế thì mới cần thằng Data Mining đi tìm tất cả những thứ đấy chứ. Thực ra là nó thuần túy đi tìm data chứ nó không phải nhà báo. Nó phải về đây, để ông nhà báo chỉ cho nó. Là đây ông đi tìm cái này đi, giờ tôi chỉ cần ông tìm thằng nào là thằng sản xuất cái camera này cho tôi. Những cái đấy ở Việt Nam còn lâu mới nhận thức được tầm quan trọng của những thứ ấy.
  • Thưa ông, nguồn thông tin công hạn chế có phải là sự cản trở của sự phát triển của báo chí dữ liệu ở Việt Nam?
  • Đây là một lí do rất quan trọng mà giống như tôi nói lúc đầu ý. Kể cả cấp Trung ương cũng rất hạn chế. Hiện nay, do yêu cầu của chúng ta về chính phủ điện tử và yêu cầu mọi thông tin phải được bóc tách cho công chúng. Một số Bộ làm tốt, một số tỉnh làm tốt nhưng không phải tất cả. Ví dụ Quảng Ninh làm tốt, nhưng tôi muốn so sánh 63 tỉnh thành, nhưng tôi có mỗi Quảng Ninh làm sao được. Ví dụ tôi muốn làm về xâm nhập mặn cá tỉnh duyên hải mà tôi có mỗi Quảng Ninh làm sao dựng được hệ thống data được. Việc thiếu cái dữ liệu gọi là yếu tố trở ngại tương đối lớn. Nó liên quan đến nhiều cấp, thậm chí các công ty nữa. Quy định là các công ty lên sàn phải niêm yết công khai. Nhưng đa phần các công ty chỉ có mỗi cáo bạch, những thứ khác không có. Những thứ chúng tôi cần không có như doanh thu, lãi lời. Tôi quan tâm đến môi trường ông có không? Ông phai có để tôi so sánh. Tất cả nhà hàng khách sạn lớn không có báo môi trường. Lẽ ra tôi không kiếm được từ khách sạn thì tôi phải kiếm được từ bộ phận gọi là Sở tài nguyên môi trường mà không có. Khi anh có những cái đấy tỷ chủ đề hay. Nghĩ đến khách sạn chỉ nghĩ đến chất lượng phục vụ, giá cả. Không ai nói đến xử lý môi trường khách sạn năm sao. Tôi không cần biết ông xử lý môi trường ra sao, tôi chỉ cần áp cái danh sách của sở tài nguyên môi trường đã thống kê. Đây là quy chuẩn độ như này thế là chuẩn, ai vượt qua quy chuẩn là vi phạm. Còn nếu anh giải thích ra thì nói rằng qua kiểm tra có hai trong số mười lắm khách sạn năm sao ở Hà Nội có chỉ số này vượt ngưỡng, chỉ số này so với quy chuẩn cao hơn, thấp hơn, anh không cần nói gì cả.
  • Việc khai thác thông tin từ công đồng mạng phát triển, đây có phải là cách để báo chí dữ liệu Việt Nam phát triển hay không?
  • Không, vì thông tin không được kiểm chứng, báo chí phải lấy thông tin đã được kiểm chứng. Kể cả việc lấy thông tin từ cộng đồng mạng nó chỉ là việc mang tính chất tham khảo. Và trên mạng hiện nay nếu chúng ta lấy thông tin từ mạng xã hội mà tỷ lệ nội dung thuần túy thông tin nó chỉ chiếm số lượng rất là nhỏ. Đa phần là thông tin mang tính chất cá nhân, bày tỏ cảm xúc, những cái phản ứng vui buồn, câu chuyện mang tính chất cá nhân. Giờ chúng ta lọc xong thì một tỷ lệ không thể biết những nội dung không kiêm chứng, thậm chí là bịa đặt. Những bức ảnh bị photoshop, những báo cáo của tổ chức không chính thống, chúng ta đủ năng lực thẩm định không? Nhiệm vụ của báo chí là thẩm định. Có nhưng thông tin khó thẩm định, hoặc mất quá nhiều công thẩm định, thì chúng ta phải tim nguồn thông tin khác. Mạng xã hội là nguồn tin cho nhiều người, nhưng nghiên cứu đã chỉ ra càng những người hay vào mạng xã hội lấy tin, càng dễ bị lừa bởi những cái tin giả. Nhiều khi nhìn vào cái tin ,không phân biệt được đó là tin thật hay tin giả, quá tin tưởng rằng đây là nguồn tin quan trọng.
  • Vậy dữ liệu cá nhân online có phải là một trong những xu hướng dữ liệu cần quan tâm của báo chí dữ liệu Việt Nam hay không?
  • Sao mình phải quan tâm nhỉ? Báo chí quan tâm đến những thứ tổng quát. Có thể là cá nhân, có thể là công ty nhưng thông tin mang tính chất chính thức khác với thông tin từ cá nhân không chính thức. Một công ty có trang web, có trang mạng xã hội chính thức thì đó là thông tin chính thức. Nếu một cá nhân lập nên mà họ khai những thông tin ấy, mà có thể đúng, có thể không đúng, thì mình phải đi thẩm định, nên đó chỉ là thông tin tham khảo.
  • Công cụ, dữ liệu, phần mềm để sản xuất nội dungcó phải là trở ngại của báo chí dữ liệu Việt Nam hay không?
  • Trở ngại lớn nhất là tư duy, các công cụ càng rẻ đi, càng về sau càng có thể mua được công cụ giá rẻ. Phải thay đổi tư duy làm báo. Làm báo hiện nay chúng ta gọi là báo chí digital bao hàm rất rộng gồm: web, mobile,…tất cả những gì dưới dạng digital, và cách làm báo chí digital cũng khác với báo chí ngày xưa. Chúng tôi tham gia nhiều cuộc thi báo chí và khi chấm bào báo điện tử thì họ in ra để họ chấm và tư duy của họ không phải tư duy người ta thể hiện digital như thế nào. Ví dụ một phần người ta thể hiện trong video đính kèm mà in ra thì sao thể hiện được. Hay thậm chí là sự phức tạp trong cách thể hiện giao diện lật từng trang, nhưng nếu in ra không thể hiện được. tư duy từ giám khảo cuộc thi, đến các lãnh đạo tờ báo, vẫn là tư duy báo in thể hiên trên digital. Khi có tư duy như vậy, rất nhiều bộ phận cấu thành của digital journalism chưa sử dụng hết chứ đừng nói đến data.Kể cả là ảnh, không phải cứ là ảnh là được, ảnh phải dùng thế nào, video dùng ra sao, cái này có dùng infographich không? Cái này là bài thông thường hay mình biến thành mega story? Cái này mình biến thành data journalism project hay chỉ là cái chap nằm trong bài, thì không nhiều đơn vị ở Việt Nam nghĩ đến. thuần túy chỉ viết bài như báo in, đặt lên báo mạng gắn với ảnh và video chấm hết. Ngày xưa để làm được một bài như thế rất là đắt, bây giờ thì rất rẻ.
  • Thưa ông cơ chế quản lý nhà nước, đặc thù không có báo chí tư nhân ở Việt Nam thì có phải là trở ngại hay không?
  • Cái này cũng không phải trở ngại, thứ nhất khoản đầu tư càng ngày càng rẻ, nó có nhiều phương án. Nếu chúng ta đầu tư lớn chúng ta làm những thứ quy mô. Nếu chúng ta đầu tư rẻ thì chúng ta làm những thứ đơn giản. Nếu nói về đầu tư thì có quá nhiều cấp độ để chúng ta lựa chọn. Cơ chế thì trong chừng mực nào đó gây trở ngại vì mức đầu tư lớn cơ chế khó khăn. Trên 100 triệu phải đấu thầu. Các đối tác nước ngoài không quan tâm việc đấu thầu. Khi tuyển dụng nhân sự vào làm những công việc trong tòa soạn báo chí mà không liên quan đến báo chí thì trong lịch sử Việt Nam là không có. Tuyển dụng nhân sự là trở ngại. Yếu tố công nghệ giống chi phí, chi phí nào thì công nghệ đó. Chi phí ít công nghệ đơn giản, chi phí nhiều công nghệ phức tạp.
  • Thưa ông Vietnamplus sẽ tận dụng thế mạnh của cơ quan trực thuộc Thông tấn xã như thế nào? Khi mà Thông tấn xã là hãng tin có rất nhiều nguồn tin trên thế giới và cả Việt Nam?
  • Thông tấn xã có một ưu thế mà không mọt cơ quan báo chí nào có được, là hệ thống phoáng viên trải dài 63 tỉnh thành và 30 cơ quan thường trú ở nước ngoài. Nếu áp dụng trong báo chí dữ liệu thì không đơn vị nào cạnh tranh được. Ví dụ dự án BOT chẳng hạn, các báo chỉ có các bài phê phán cái này tốt, cái kia thì không đúng, cơ chế dẫn đến tình trạng gọi là thâm hụt, đầu tư chỗ này chỗ kia, rồi là cư xử với những người đầu tư BOT thế nào? Nhưng với Thông tấn xã, tất cả địa phương nào có BOT chúng tôi kết hợp thành tuyến thông tin, sau đó kết hợp thành sản phẩm tổng thể, vẽ hình ra điểm nào có BOT sẽ ra được thông tin, bài viết sâu hơn về địa phương đó. Thậm chí chúng tôi có thể so sánh các nước tương tự như Thái Lan, Malaysia, Indonesia,… họ giải quyết vấn đề BOT như thế nào? Hay như BRT chúng tôi có thể làm tương tự, chúng không đơn lẻ mà biến thành câu chuyện. Nếu xây dựng báo chí dữ liệu thì rất quy mô. Hay nói về vấn đề xử lý chất thải y tế nếu những bài viết thông thường sẽ đi tìm hiểu xem rác thải như vậy, xử lý như vậy ùn ra một làng bên cạnh, nguy hại như thế như thế, biến nó thành sản phẩm đi vào đời sống, giả dụ bóc trần một đường dây như vậy. Đó là cách làm rất truyền thống. Cách làm theo sức mạnh của thông tấn xã thì khác, mỗi nơi lại theo một kiểu khác, chúng ta có một bức tranh tổng hợp. Và khi tổng hợp không truyền đạt theo kiểu truyền thống và biến nó thành báo chí dữ liệu rất quy mô. Sau này thông tấn xã sẽ giảm những tin vô thưởng vô phạt, chỉ làm những thứ national. Giả dụ anh nói về FDI, mười năm qua hoạt động hiệu quả ra làm sao, cjo thành biểu đồ hết. Tỉnh này xét tiêu chí tổng vốn, màu xanh càng đậm vốn càng cao, xét về tiêu chí rải ngân, chưa chắc thằng tổng vốn cao đã rải ngân tốt, anh xét về tiêu chí đóng góp ngân sách địa phương, xét về dự án FDI có bảo vệ môi trường không? v.v.. Tách hết tiêu chí đưa lên bản đồ Việt Nam anh không cần nói gì để data hết. Anh muốn xem cái đỏ rực này là cái gì nó sẽ liệt kê hết cho anh là đấy dự án xây bao nhiêu trường cho người nghèo, trồng cây, tổ chức tour hay cái gì đó. Cách thức làm báo ngày nay nó phải là như thế.
  • Rất cảm ơn ông vì những thông tin bổ ích và hấp dẫn được trình bày bằng văn phong vô cùng vui vẻ!

About Nguyễn Cường

Nguyễn Cao Cường là một nhà báo, giảng viên chuyên ngành truyền hình tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội. Các hướng nghiên cứu chính: truyền hình, truyền thông xã hội và quản trị truyền thông.

Bình luận

bình luận