Nhận diện ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến báo chí Việt Nam

Tác giả: Huỳnh Văn Thông

Khoa Báo chí và Truyền thông Trường Đại học KHXH và NV TP.HCM

Bài in trong Kỷ yếu hội thảo truyền thông xã hội tháng 10/2013 của ĐH KHXH&NV Hà Nội

 

1. Nhận diện truyền thông xã hội ở Việt Nam

Truyền thông xã hội là khái niệm gắn liền với một hiện tượng truyền thông mới, là một trong những nhân tố có tầm tác động quan trọng làm thay đổi đáng kể cảnh quan và diện mạo báo chí hiện nay.

truyen-thong-xa-hoi-bemecmedia_vn

Về phương diện nội dung, khái niệm truyền thông xã hội (social communication) đề cập đến hình thức truyền thông mà ở đó thông tin hoặc ý tưởng được chia sẻ giữa hai hoặc nhiều cá nhân. Trong phương diện này, một hoạt động truyền thông xã hội sẽ được xác lập dựa trên mối quan hệ xã hội của ít nhất hai cá nhân. Bản chất của truyền thông xã hội trong phương diện này là mối liên hệ liên cá nhân mang tính ngang hàng trong quá trình kết nối truyền thông và đưa tin. Điều này hoàn toàn khác so với địa hạt truyền thông cổ điển, nơi mà các cơ quan truyền thông chuyên nghiệp giữ vai trò hạt nhân kết nối truyền thông và đưa tin. Cũng vì thế, truyền thông xã hội thường gắn liền với các hoạt động truyền thông không chính thức trong một xã hội mở. Truyền thông không chính thức cho phép tham gia dễ dàng vào một nhóm xã hội nào đó để trò chuyện và đưa ra quan điểm của họ về bất cứ vấn đề nào mà họ thích hoặc quan tâm chia sẻ. Truyền thông xã hội thường được thực hiện thông qua các các phương tiện truyền thông xã hội(social media), tuy nhiên các cuộc gặp mặt kiểu off-line trên thực tế cũng là một cách thức hiệu quả. Như vậy, một trong những đặc trưng quan trọng của truyền thông xã hội là khía cạnh “chủ thể truyền thông cá nhân”.

Về phương diện cách thức, truyền thông xã hội còn được hiểu theo nghĩa là phương tiện truyền thông xã hội (social media) – một cách thức truyền thông kiểu mới, trên nền tảng là các dịch vụ trực tuyến, nhờ đó tin tức có thể chia sẻ và lan truyền nhanh chóng, có tính tương tác cao giữa những người tham gia. Chính vì vậy, sự phát triển của truyền thông xã hội trên thực tế phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của môi trường truyền thông trực tuyến, đặc biệt là sự phát triển của Internet.

Ở Việt Nam, kể từ 2005 – thời gian mà Internet băng thông rộng được triển khai mạnh và xã hội Internet Việt Nam phát triển bùng nổ, thì các hoạt động truyền thông xã hội cũng trở nên rất sôi động. Đến nay có thể nhận diện các khu vực hoạt động chính của truyền thông xã hội ở Việt Nam mà nhiều cá nhân đang tham gia thường xuyên, cụ thể như:

  • Các cuộc thảo luận trên các diễn đàn trực tuyến, trên chức năng phản hồi (comment) của các bản tin điện tử (tin trên báo điện tử, tin trên các website, status hoặc entry mạng xã hội).
  • Các hoạt động đưa tin và xuất bản của cá nhân trên Internet, chẳng hạn như đăng bài trên website cá nhân, viết blog entry, đăng tải video clip lên YouTube, viết status và note Facebook,đăng tải hình ảnh trên Internet (Facebook, Flick, Picassa…).
  • Các hoạt động kết nối và phát tán thông tin trên môi trường mạng điện tử, chẳng hạn như tag các mục nội dung cho bạn bè trên mạng, chia sẻ các mục nội dung, chia sẻ tài liệu trên dịch vụ đám mây…

2. Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đối với báo chí Việt Nam

Sự bùng nổ của truyền thông xã hội trong môi trường truyền thông Việt Nam đã tạo ra những ảnh hưởng rất đáng kể đến báo chí Việt Nam, thậm chí còn làm đảo lộn cảnh quan báo chí và làm biến dạng diện mạo báo chí Việt Nam.

2.1 “Tin xã hội (social news) lên ngôi và kịch bản biến đổi truyền thông cổ điển”

Một trong những tiêu chuẩn mang tính chiến lược nhất về giá trị nội dung của tin tức trong báo chí cổ điển là sự đáng giá của tin tức (newsworthiness). Một tin được xem là “đáng đưa tin” nếu như nó tập trung vào những vấn đề thời sự có tác động kinh tế-xã hội quan trọng. Theo đó, những tin tức sa quá nhiều vào việc đưa tin về người nổi tiếng, về giải trí, về bạo lực, về những chuyện sinh hoạt cá nhân, tin tức địa phương nhỏ lẻ sẽ bị phê bình là “phi tin tức” (non-news). Ít ra thì báo chí cổ điển, trong vị thế có phần độc tôn của nó trong quá khứ, đã sử dụng tiêu chuẩn này để tạo ra sự khác biệt về giá trị tin tức để lôi kéo bạn đọc. Nhưng đó là ở bối cảnh mà báo chí cổ điển gần như giữ vai trò độc tôn trong việc cung cấp tin tức, và vì thế mà các tờ báo có quyền lựa chọn tin tức đăng tải để làm chủ cuộc chơi truyền thông.

Nhưng sự tham gia của truyền thông xã hội vào cảnh quan báo chí hiện đại đã làm thay đổi đáng kể thực tế này. Công chúng, với sự hậu thuẫn của trào lưu truyền thông xã hội, đã có thêm những lựa chọn mới. Trên môi trường truyền thông xã hội, những loại mà báo chí gọi là “phi tin” lại đang trở thành một làn sóng mới về nhu cầu tin tức, chi phối sự lựa chọn biên tập và xuất bản của các tòa soạn.

Thông qua kết nối và phát tán thông tin trên diện rộng qua Internet, cộng với việc tăng cường khả năng theo dõi và giám sát mọi hoạt động xã hội trên phạm vi toàn cầu nhờ các thiết bị di động, truyền thông xã hội còn tạo ra một khối lượng các tin tức khổng lồ được chia sẻ mà phần lớn trong số đó là những tin tức kiểu “phi tin”, nhưng giờ đây được nhận diện trong một tên gọi mới xứng hợp hơn là tin tức xã hội (social news).

Các tin tức xã hội có thể được nhận diện với một số đặc tính căn bản như:

  • Được phát hiện ngẫu nhiên bởi các cá nhân
  • Được đăng tải tự do trong môi trường truyền thông xã hội.
  • Thường tập trung vào những chủ đề mang tính giải trí, sinh hoạt cá nhân của giới ngôi sao, các tai nạn, sự cố, vụ án nhỏ lẻ trong đời sống thường ngày…
  • Thường đính kèm các thông tin cảm xúc và đánh giá chủ quan của người đăng tin (điều này đi ngược lại các yêu cầu về tính chuyên nghiệp của nhà báo)
  • Thường được viết bằng văn phong sinh hoạt, tức là kiểu văn phong tự nhiên, ngẫu hứng và chứa nhiều yếu tố lệch chuẩn.

Các tin tức xã hội có hai lợi thế mà tin tức báo chí cổ điển không thể và cũng không muốn có: đó là đăng ngay tức thời và biên tập hậu kiểm.

Báo chí cổ điển được hưởng lợi và chịu thiệt thòi thế nào trước trào lưu tin tức xã hội phát triển rầm rộ ? Ở khía cạnh hưởng lợi, tin tức xã hội đem đến cho báo chí cổ điển một nguồn tin đa dạng và chi phí thấp để có thể khai thác cho những chuỗi giá trị thông tin tiếp theo. Thông thường, truyền thông xã hội có ưu thế trong việc phát hiện kịp thời và đưa các tin tức xã hội rất nhanh nhạy, nhưng lại hạn chế về khả năng theo đuổi các vụ việc để tạo thành các chùm hoặc chuỗi tin tức đáng giá. Nhiều tòa soạn báo chí hiện nay đã triển khai một khâu tác nghiệp mới liên quan đến việc quan trắc thường xuyên và khai thác các nguồn tin tức xã hội để dựa vào đó khởi động các chuỗi tin tức đáng giá nhờ nghiệp vụ chuyên sâu của mình. Và cũng theo kịch bản đó, báo chí cổ điển phải chịu một thiệt thòi về tốc độ đưa tin nhanh trong mảng tin xã hội so với truyền thông xã hội. Trừ phi, báo chí được sở hữu những nguồn tin tức độc quyền hay tin tức mang tính điều tra.

Một thiệt thòi đáng nói nữa của báo chí là tình trạng thay đổi nhu cầu dùng tin của người đọc trong bối cảnh truyền thông mới. Các tin tức xã hội sẽ thu hút nhiều người dùng, đặc biệt là người dùng trẻ và dần dần ràng buộc giới trẻ vào sự lệ thuộc đối với dòng tin tức này. Sự phân biệt giữa tin tức đáng giá và tin tức xã hội có thể sẽ vì thế mà mờ dần đi, và thiệt thòi tất nhiên sẽ thuộc về giới báo chí cổ điển. Trong khi các tin tức đáng giá đòi hỏi cách làm tin chuyên nghiệp và tốn kém chi phí thì chúng lại có thể ít được quan tâm.

Mặt khác, truyền thông xã hội còn có một cách tiếp cận tin tức khiến báo chí cổ điển phải chịu thiệt thòi. Nhiều tin tức xã hội được đăng tải dưới các vỏ bọc ẩn danh, nặc danh mà người đăng không phải chịu trách nhiệm về đạo đức truyền thông, thậm chí là trách nhiệm pháp lý, cũng không bị cản trở bởi một hàng rào biên tập nào. Các trang mạng blog, mạng xã hội dường như tạo cơ hội không giới hạn cho việc tự do đăng tải. Trong khi báo chí cổ điển phải chịu sự kiểm soát của hàng rào biên tập ở tòa soạn, các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức liên quan. Báo chí cổ điển nếu hiểu rõ tính chuyên nghiệp của mình thì không nhất thiết phải so sánh và mơ ước thứ tự do đăng tải này ở truyền thông xã hội. Tuy nhiên, điều này đang tạo một áp lực đáng kể lên truyền thông cổ điển và là nguyên nhân dẫn đến một kịch bản truyền thông cổ điển lợi dụng truyền thông xã hội để đăng tải các loại tin tức thiếu trách nhiệm. Trên thực tế, đang có một lượng đáng kể các tin tức có xuất xứ từ truyền thông xã hội được chuyển vào mặt báo chính thức thông qua một vài cách xử lý “quá cảnh” kiểu “blogger X đã viết …”, “blogger Y lên tiếng rằng …”. Ranh giới giữa việc tham khảo một nguồn tin chưa chính thức với việc cố tình đăng tải một nguồn tin chưa được kiểm chứng đôi khi trở nên rất mơ hồ. Thoạt nhìn, có vẻ báo chí cổ điển được hưởng lợi đôi chút từ truyền thông xã hội, nhưng thực tế đó lại là kịch bản “tự sát”, khi mà báo chí cổ điển coi như tự đánh mất chỗ đứng danh giá của mình và tự xóa nhòa ranh giới giá trị.

2.2 Lối thoát “báo lề trái” trên môi trường truyền thông xã hội trong bối cảnh báo chí suy giảm tính độc lập

Trong những lý do khiến báo chí trong tư cách là một bộ phận quan trọng của truyền thông cổ điển lâm vào tình cảnh khủng hoảng nội dung nghiêm trọng, thoạt nhìn, có vẻ như là do truyền thông xã hội đã đẩy mảng tin tức xã hội lên vị trí thời thượng khiến bạn đọc xa lánh các “tin tức đáng giá” vốn là sở trường của báo chí cổ điển. Nhưng kỳ thực, sự lên ngôi của mảng tin tức xã hội chỉ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng nội dung của báo chí – một khủng hoảng thật ra có căn nguyên từ một câu hỏi lớn hơn, một câu hỏi đầy nhạy cảm. Rằng, các tin tức đáng giá ở Việt Nam đã biến đi đâu ?

Câu trả lời có thể liên quan đến hai ý khác nhau. Một ý liên quan đến năng lực của đội ngũ làm tin tức báo chí. Có vẻ như năng lực tìm kiếm và theo đuổi tin tức của các tờ báo đã yếu đi trông thấy, nhiều phóng viên chạy theo các tin tức lặt vặt mà không có động lực và năng lực để theo đuổi săn tìm những tin tức đáng giá. Ý còn lại liên quan đến thực tế suy giảm tính độc lập của báo chí ở Việt Nam hiện nay. Thậm chí ý thứ hai có khi còn là một phần nguyên nhân của ý thứ nhất.

Các cơ quan quản lý báo chí của Việt Nam hiện nay dường như đều muốn tất cả các tờ báo trong nước đều phải tự nguyện trở thành một kênh truyền thông nhà nước, phải ý thức rõ ràng về trách nhiệm làm PR nhà nước. Họ không thật sự có chiến lược hiệu quả để ứng xử với truyền thông đối lập, thường là có nguồn gốc bên ngoài quốc gia. Nhưng lại không muốn trong nước có các tờ báo thuần túy theo đuổi sứ mạng làm truyền thông độc lập. Các sự thật phải được sử dụng theo đúng cách mà nhà nước mong muốn. Không có bóp nghẹt báo chí như truyền thông đối lập vẫn hay nói quá, nhưng cũng không có sự thoải mái hoàn toàn nếu tờ báo đăng những tin tức lớn có khả năng gây ra những hiệu ứng xã hội bị xem là nhạy cảm và khó lường. Nhưng điều này vẫn chưa đáng nói bằng chuyện cái gì sẽ được định nghĩa là nhạy cảm và khó lường ? Đến nay dường như điều đó không có luật, mà bị chi phối bởi các ý muốn hoàn toàn chủ quan. Việc tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc gia cho báo chí hoạt động, kể cả một khuôn khổ rất hạn hẹp, xét cho cùng là có thể chấp nhận được. Nhưng việc dựa quá nhiều vào các phán quyết chủ quan, cảm tính và tùy tiện thì là điều khó biện minh.

Một khi báo chí bị suy giảm tính độc lập, gặp khó khăn trong việc đăng tải tin tức dựa trên nguyên lý “thuần túy sự thật”, thì đó cũng là lúc mà một số cửa ngỏ thông tin khác sẽ được mở ra và trở nên khó kiểm soát, nhất là trên môi trường truyền thông xã hội mang đậm bản chất “truyền khẩu” và “phi tập trung hóa”. Trước hết phải kể đến tin đồn. Và kế đến là một thực tiễn báo chí phi chính thống trên mạng mà người đọc biết đến dưới cái tên “báo lề trái” – một thực tế đặc sệt Việt Nam. Nhu cầu tìm đến các tin tức và sự thật luôn là nhu cầu thường trực, và khi báo chí không đáp ứng được nhu cầu này thì coi như sân chơi thông tin chắc chắn sẽ thuộc về “báo lề trái” và tin đồn. “Báo lề trái” không phải là truyền thông đối lập, hoặc có chăng nó chỉ bị lợi dụng bởi truyền thông đối lập. Đó là một phần của “lối thoát” thông tin được mở ra để ứng phó với sự suy giảm tính độc lập của báo chí. Dưới góc nhìn nghiên cứu, “lối thoát” này chính là đã được mở về phía truyền thông xã hội và được hậu thuẫn bởi truyền thông xã hội. Tin đồn, đặc biệt là tin đồn chính trị, trở thành một thứ “đặc sản” trên môi trường truyền thông xã hội, đơn giản là vì trong báo chí chính danh nhiều tin tức chính trị bị xem là “nhạy cảm” nếu xuất hiện trên mặt báo. Giới quản lý báo chí thà chấp nhận một số thứ thông tin trôi nổi trên môi trường truyền thông xã hội còn hơn nhìn thấy chính những thông tin ấy xuất hiện trên mặt báo. Ngay bản thân câu hỏi “tại sao lại như thế?” có khi cũng chỉ được nhận lại một vài tin đồn thay cho câu trả lời rõ ràng.

Nhưng lối thoát “báo lề trái” cũng tự nó làm suy yếu vị thế xã hội của báo chí và đẩy các nhà báo đến kịch bản “lề phải”. Sự khác biệt này cần được mổ xẻ về học thuật để nhìn thấy một vấn đề xã hội hoàn toàn mới mẻ của nghề báo ở Việt Nam, vì chính điều này đang phân hóa à làm rạn nứt đội ngũ báo giới Việt Nam hơn bao giờ hết.

2.3 Thị trường quảng cáco tái cấu trúc và địa vị kinh tế truyền thông của báo chí bị đe doạ

Một ảnh hưởng lớn nữa của truyền thông xã hội đối với báo chí ở Việt Nam diễn ra ở địa hạt kinh tế. Quảng cáo và dịch vụ PR doanh nghiệp luôn là một nguồn thu sống còn của báo chí cổ điển. Báo chí cổ điển trước đây đã xác lập được một quyền lực rõ ràng trong địa hạt này. Tuy nhiên, sự phát triển của Internet nói chung và của truyền thông xã hội nói riêng đã đem lại những giải pháp quảng cáo và PR theo hướng “phi báo chí”, khiến thị trường quảng cáo và PR tái cấu trúc rất nhanh. Ở khu vực doanh nghiệp lớn, một tỷ lệ ngân sách quảng cáo và PR vẫn còn được chuyển cho báo chí, tuy đã có một phần tỷ lệ khác hướng vào quảng cáo và PR phi báo chí trên môi trường truyền thông xã hội. Nhưng khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thì dường như cán cân đã nghiêng hẳn về phía quảng cáo phi báo chí, vì các doanh nghiệp SME không chịu nổi mức chi phí quảng cáo và PR quá cao trên báo chí, trong khi các giải pháp phi báo chí lại rẻ tiền và dễ tiếp cận hơn rất nhiều. Thị trường rao vặt cũng hầu như đã tuột khỏi tầm kiểm soát của báo chí.

Thực tế đó làm suy giảm đáng kể tiềm lực kinh tế của báo chí. Và điều này cũng gây ra những áp lực lớn lên hệ thống sản xuất nội dung. Chi phí sản xuất tin tức giảm, thu nhập của phóng viên và biên tập viên thiếu cạnh tranh chính là một trong những nguyên nhân góp phần làm giảm sút chất lượng tin tức, xô đẩy không ít phóng viên và biên tập viên vào con đường “luộc” tin tức từ các nguồn truyền thông xã hội và không có động lực tiếp cận các tin tức đáng giá.

2.4 Hậu thuẫn của truyền thông xã hội cho “tin thức ký sinh” và “báo chí nhái”

Cảnh quan báo chí Việt Nam hiện nay còn ghi nhận một thực tế khác khá thú vị, mà nguyên nhân cũng có liên quan đến sự ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến báo chí cổ điển. Đó là hiện tượng nhiều trang thông tin điện tử tổng hợp “lấn sân” sang lĩnh vực sản xuất tin tức nhưng lại hút công chúng hơn nhiều so với báo chí chính danh, cho dù thứ tin tức được sản xuất ở những trang này là kiểu tin tức khai thác “ký sinh” từ tin tức báo chí.

Các trang thông tin điện tử tổng hợp không có chức năng báo chính danh (kiểu như Kênh 14, 24h.com, …) dường như định vị ở đâu đó giữa ranh giới của báo chí với truyền thông xã hội. Chúng vừa khai thác nguồn thông tin tự do từ truyền thông xã hội lại vừa khai thác nguồn thông tin từ báo chí chính thức để tạo các giá trị tin bài riêng cho mình.

Nhìn dưới góc độ báo chí thì những trang này là một loại “báo chí nhái”, chuyên khai thác tin tức báo chí theo kiểu “ký sinh”, tạo ra một khu vực tin tức “thứ cấp” so với nguồn tin tức gốc từ báo chí. Thiếu tin tức gốc từ báo chí thì các trang này sẽ hụt tin bài trông thấy, nhưng nghịch lý là có khi báo chí bị truy cứu trách nhiệm về tin gốc đến mức phải gỡ bỏ bài đã đăng hoặc phải đính chính, xin lỗi thì những trang này lại mặc nhiên không phải làm điều tương tự. Những nghịch lý như thế đã tạo ra một cạnh tranh không lành mạnh và làm thiệt hại đáng kể cho báo chí cổ điển. Đây là một thách thức thiếu công bằng đối với báo chí chính danh vốn phải đầu tư nhiều nguồn lực, công sức để làm tin tức và phải chịu trách nhiệm rất cao về tin tức mình đăng. Một thực tế thiếu công bằng về cạnh tranh tin tức như thế đã dựa vào thực tế nào để hình thành và thậm chí là sinh sôi nảy nở thành một trào lưu ở Việt Nam hiện nay? “Báo chí nhái” không phải là một bộ phận của truyền thông xã hội, vì chủ thể truyền thông trong trường hợp này không phải là cá nhân. Nhưng “báo chí nhái” đã dựa vào môi trường truyền thông xã hội để khai thác kiểu tin tức “ký sinh”. Trước hết là về nhân lực, “báo chí nhái” đã sử dụng một đội ngũ làm tin tức nghiệp dư trong mạng lưới truyền thông xã hội để làm việc cho họ như những phóng viên, biên tập viên – nhưng là những phóng viên, biên tập viên không chính danh về nghề nghiệp. Họ có thể, và cũng nên bị xem là “trá hình”, dù có thể là trá hình bất tự giác do bị lợi dụng bởi các cơ quan “báo chí nhái”. Thậm chí trong đội ngũ này không ít những người còn thuộc độ tuổi trẻ em đã tham gia làm tin tức mà nhận thức về trách nhiệm xã hội và đạo đức đưa tin còn chưa được đầy đủ. Đội ngũ phóng viên, biên tập viên “trá hình” này là một trong những nhân tố làm cho sự thuần nhất về giá trị xã hội của đội ngũ nhà báo bị đe dọa – và đó là một nguy cơ tiềm ẩn của nghề báo chính danh về lâu dài.

Thứ hai là về nguồn tin, “báo chí nhái” vừa sử dụng những nguồn tin tức báo chí chính thức lại vừa trộn chúng với các nguồn tin từ môi trường truyền thông xã hội. Ranh giới tin đồn – dư luận xã hội – tin được kiểm chứng trở nên khó xác định và làm cho độ tin cậy báo chí – một chỗ dựa xã hội quan trọng của báo chí cổ điển – bị lung lay một cách rõ ràng.

2.5 Truyền thông xã hội “bù đắp” giá trị cho không gian báo chí cổ điển

Báo chí, nhìn trong cấu trúc xã hội, là một kiểu không gian công cộng (public sphere) – nơi mà các dòng chảy thông tin và ý kiến có thể tự do gặp gỡ, va chạm và tự điều chỉnh. Theo J. Habermas, đó là không gian mà mọi thành viên xã hội đều có khả năng tiếp cận, tham gia và trao đổi ý kiến với nhau mà không phải (hoặc ít phải) chịu áp lực từ bên ngoài hoặc chịu các ràng buộc phức tạp từ các định chế có sẵn. Đó cũng thường là nơi tập họp các luồng ý kiến công luận, ý muốn của công chúng và các quan điểm phản biện xã hội cần thiết cho các định chế. Không gian công cộng báo chí, vì thế, trở thành cầu nối trung gian giữa “không gian công dân” (private sphere) với “không gian công quyền” (public authority sphere), cho phép các nhóm xã hội khác nhau có thể cùng thảo luận và tìm ra những giải pháp thích hợp cho các vấn đề xã hội.

Cũng J. Habermas (2004) cho rằng, Internet – một nền tảng rất quan trọng của truyền thông xã hội – còn được xem là “không gian công cộng 2.0” vì nó đem lại những tác động sâu sắc đến không gian công cộng truyền thống và tạo ra một “phiên bản” mới của không gian công cộng – nó “mở” (open), mang tính toàn cầu, và tạo ra khả năng tham gia – chia sẻ – tương tác nhiều hơn, nhất là trong thế “ẩn danh/nặc danh” (anonymous).

Báo chí Việt Nam hiện nay, như đã nhắc đến ở trên, đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm tính độc lập, vì thế mà giá trị của không gian công cộng báo chí ở Việt Nam cũng bị suy giảm giá trị so với kỳ vọng của các thành viên xã hội, bất luận là họ thuộc nhóm có vị thế xã hội thế nào. Một khi không gian công cộng của báo chí bị suy giảm giá trị xã hội thì không chỉ có người dân cảm thấy không hài lòng. Trên thực tế, đó là một thiệt thòi chung của xã hội, vì có thể các quyết định xã hội sẽ ít được thảo luận, ít được tham gia, ít được giám sát hơn bởi các nhóm thành viên xã hội khác nhau, và do đó mà có thể ít hợp lý hơn cho sự phát triển tự nhiên của xã hội.

Trong một bối cảnh như thế, truyền thông xã hội với sự tương tác thông tin khá tự do của các cá nhân có thể đem lại một sụ bù đắp đáng kể cho tình trạng vừa nêu. Sự bù đắp này biểu hiện cụ thể ở các dạng thức như :

  • Bài báo chính thức có thể được viết với quan điểm rất chính thống và chịu nhiều áp lực kiểm soát nội dung, nhưng các nội dung phản hồi của công chúng trực tiếp trên bài viết đó thì có thể tự do hơn, vì được phát biểu dưới dạng ý kiến công chúng, nhất là những ý kiến đó là ẩn danh, nặc danh.
  • Ngay trong trường hợp tòa soạn hạn chế việc đăng tải các phản hồi của bạn đọc kèm bài viết để phản ánh quan điểm đa chiều thì các phản hồi ấy sẽ chuyển sang môi trường truyền thông xã hội thông qua các hoạt động tag lên mạng xã hội hoặc đăng lại trên các diễn đàn trực tuyến. Khi đó, các ý kiến người đọc và dư luận sẽ tự do và thoát khỏi sàng lọc của hàng rào biên tập ở tòa soạn báo chí.Thực tế này hiện nay đã là phổ biến.

Một sự “bù đắp” giá trị như thế của truyền thông xã hội cho không gian công cộng báo chí ở Việt Nam hiện nay là một kiểu tương tác tích cực giữa báo chí cổ điển và truyền thông xã hội, giúp giữ cho báo chí Việt Nam cái không khí tương tác sôi nổi cần thiết để công chúng tiếp nhận thông tin đa chiều và các thành viên xã hội có cơ hội đồng tham gia vào các quyết định chung của xã hội.

3. Những phản ứng cần thiết

Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến báo chí là một xu thế khách quan của thời đại. Trong trường hợp Việt Nam, với những đặc thù về môi trường và văn hóa báo chí, sự ảnh hưởng đó có một số biểu hiện khác biệt đến mức điển hình, ví dụ như sự phân hóa “báo lề trái” – “báo lề phải” – “báo chí nhái”…

Người viết nêu và phân tích bốn phản ứng cần thiết mà báo chí cổ điển cần phải có để thích ứng với bối cảnh truyền thông hiện đại. Một là phải nỗ lực xác lập “căn cước” trên môi trường truyền thông xã hội để người dùng tin tức có thể tiếp cận thuận tiện từ các kênh truyền thông xã hội. Hai là phải định nghĩa lại quy trình sản xuất tin tức báo chí theo hướng tích hợp với nguồn tin tức từ truyền thông xã hội. Ba là phải xây dựng năng lực cho một bộ phận ở tòa soạn chuyên trách tương tác với truyền thông xã hội. Bốn là phải xây dựng lại các kịch bản quảng cáo báo chí.

Về quản lý báo chí, cần kiên quyết xây dựng khung pháp lý và thi hành một chuẩn mực khắt khe về tiêu chuẩn hành nghề báo chí trong xã hội Việt Nam để loại trừ bằng được những trường hợp “báo chí nhái” và nhà báo không chính danh.Điều anfy không chỉ để bảo vệ giá trị cho báo chí chính danh, mà còn là để bảo vệ cho một môi trường tin tức “sạch hơn”, giảm thiểu tình trạng nhiễu nhương tin tức như hiện – một tình trạng mà không riêng một nhóm xã hội nào chịu thiệt. Bản thân các cơ quan quản lý cũng đang chịu thiệt.


Tài liệu tham khảo

  1. Krimsky S. (2007). Risk Communication in the Internet Age: The Rise of Disorganized Skepticism. “Environmental Hazards” 7 (2007) 157–164.
  2. Klaus (2007). Social Communication. Psychology Press.
  3. Gillin P. (2007). Những tác nhân gây ảnh hưởng mới. Dịch từ nguyên bản The New Influencers: A Marketer’s Guide to the New Social Media. Phương Thúy –Hồng Vân dịch. NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Tinh Văn Media 2010.
  4. Cavanagh A. (2007). Sociology in the Age of the Internet. Open University Press.

About Nguyễn Cường

Nguyễn Cao Cường là một nhà báo, giảng viên chuyên ngành truyền hình tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội. Các hướng nghiên cứu chính: truyền hình, truyền thông xã hội và quản trị truyền thông.

Bình luận

bình luận